Nguồn gốc Họ Hoàng
1. Một số cách phát âm khác nhau của từ họ Hoàng
Huang, Hwang (Mandarin-Quan thoại ) Wong (Quảng Đông /Yue, Fuzhou,
Hakka/Kejia, Gan) Bong (Hakka/Kejia) Huỳnh, Hoàng (Việt Nam) Hwang
(Korean, Triều Tiên) Ng (Phúc Kiến/Min, Teochiew/Chaoshan) Oei, Ooi, Oi,
Wee (Hokkien/Min) Ong (Phát âm chệch của "Ng")
Trích lọc thông tin từ trang WEB
http://www.geocities.com/bx_huang/ xác định gốc tích họ Hoàng như sau:
2. Gốc tích họ Hoàng
Họ Hoàng ở Trung Quốc xếp thứ 8 trong các dòng họ và có dân số (tính
trên toàn thế giới) khoảng 32 triệu người (năm 2005). Trong bản bách
tính gia (百家姓), họ Hoàng chép ở số thứ tự 96.
Từ đời nhà Shun (帝舜)(Thuấn đế), Hui Lian 惠连 (Huệ Liên), con trai của
Lu Zhong 陆终 (Lục Chung), hậu duệ của Hoàng Đế (黄帝) đã thành công trong
việc chế ngự lũ lụt, vua Shun (Thuấn) ban đất Can'hu (参胡) (Tham Hồ),
ngày nay là đất Fenyang (汾阳) (Phần Dương)tỉnh Shanxi (山西省) (Sơn Tây).
Vào năm 2200 trước công nguyên, vua Shun đổi tên đất Can'hu thành đất
của nước Hoàng (黄国)và ban họ cho Hui Lian thành họ Hoàng (黄), tên là Yun
(云) (Vân). Từ đấy, con cháu họ Hoàng cai trị đất này cho đến thời Xuân
Thu (春秋时代) (722- 481 trước công nguyên). Sau đó rơi vào tay nước Jin
(晋国) (Tấn Quốc).
Như vậy, từ đời Hoàng Đế đến Hui Lian tất cả 12 đời như sau: (1) 黄帝
Hoàng Đế (Huang Di), (2) Chang Yi 昌意(Xương Ý), (3)Zhuan Xu (Emperor)
帝颛须,(Chuyên Tu đế) (4)Qiong Chan 穷蝉 (Cùng Thiền), (5)Nu Xiu 女修,(Nữ Tu),
(6)Lao Tong 老童 (Lão Đồng), (7)Shao Xin 少辛 (Thiểu Tân),(8)Juan Zhang 卷章
(Quyển Chương),(9)Zhong Li 重黎 (Trọng Lê) ,(10)Wu Hui 吴回 (Ngô Hồi)
,(11)Lu Zhong 陆终 (Lục Chung),(12)Hui Lian 惠连 (Huệ Liên). Tính đến nay đã
là 4200 năm kể từ ông tổ Hui Lian (Huang Yun – 2253TCN).
3. Sự phát triển
Vào năm 891 trước CN, Chu Thảo Vương (Zhou Xiao Wang) 周孝王 phong Hầu
cho Hoàng Hi (黄熙) (con trai (aka) của Huang Shi 黄石-Hoàng Thạch), hậu duệ
thứ 53 của Huệ Liên (惠连) và phong đất vùng phiá đông sông Hán (汉水)
(ngày nay thuộc vùng Nghi Thành (Yicheng) (宜城) tỉnh Hồ Bắc (湖北) gọi là
đất Hoàng (lưu ý đất này khác với nước Hoàng ở Phần Dương, tỉnh Sơn
Tây). Lãnh địa này gồm 4 nước: Giang (江), Hoàng (黄) - được gây dựng do
hậu duệ của Bá Ích (伯益), Đạo (道), Bá (伯), nằm trong thung lũng sông
Hoàng (潢水). Nước Hoàng ở Nghi Thành, Hồ Bắc được xem như nước Tây Hoàng
(西黄) trong lịck sử. Vào năm 845 trước CN, Hầu Văn (文侯) Hoàng Mạnh (黄孟),
aka của Hoàng Chương (黄璋) dời đô nước Hoàng từ Nghi Thành về Hoàng Xuyên
(Huangchuan) (潢川), tỉnh Hà Nam và lập nên nước Hoàng mới. Hậu duệ của
Hoàng Hi (黄熙) thống trị đất Hoàng cho đến năm 648 TCN sau đó bị nước Sở,
một chư hầu của Nhà Chu chiếm mất. Hầu Mục (穆侯) Hoàng Xí Sanh (黄企生)
chạy thoát sang lánh ở nước Tề (齐国) (ngày nay thuộc Linzi, tỉnh Sơn Đông
(山东省)). Thần dân nước Hoàng buộc di chuyển về đất nhà Chu ngày nay
thuộc tỉnh Hồ Bắc, nơi mà được gọi là Giang Hạ quận (Jiangxia 江夏郡) thời
nhà Hán (汉朝) (nay là Vũ Hán). Ngày nay, nhiều nơi ở vùng này vẫn còn có
tên là Hoàng như Hoàng Cương (黄冈), Hoàng Pha (黄陂), Hoàng Mai (黄梅), Hoàng
Thạch (黄石). Một phần lớn thần dân Hoàng cũng dời đến vùng phía Nam sông
Trường giang/Giang Tế (Dương tử) (长江), dần dần đồng hoá với dân địa
phương mà thành dân thiểu số họ Hoàng không thuần Hán đang sống ở vùng
nam Trung Quốc ngày nay.
Từ Giang Hạ, dần dần họ Hoàng đi khắp Trung Hoa và trên thế giới. Từ
đây, Giang Hạ được xem như là cái nôi của họ Hoàng. Ngày nay, họ Hoàng
được gọi là Hoàng Giang Hạ và tên gọi Giang Hạ tương đồng với họ Hoàng.
Sau 3 thế kỷ suy tàn, họ Hoàng được phục hưng khi Hoàng Hiết (黄歇),
một hậu duệ của gia đình quý tộc họ Hoàng đã được tiến cử làm tể tướng
nhà Chu. Hoàng Hiết được phong là lãnh chúa Xuân Thân (春申君) sống vào năm
(314-238 TCN). Thời nhà Hán, Hoàng Bá (黄霸) (130 - 51 TCN) lại được
phong làm tể tướng. Họ Hoàng bước vào thời kỳ cực thịnh trong thời nhà
Hán
Vào thời nhà Tấn (晋朝) (265-420), rợ Hồ xâm lấn phía Bắc Trung Hoa,
nhiều dân cư sống phía bắc (đặc biệt là các gia đình quan lại) di chuyển
xuống phía nam cùng với nhà Tấn. Đây chính là thời gian dân họ Hoàng
nhập cư vào Phúc Kiến (福建省). Từ đời nhà Đường (618-907 sau CN) về sau,
dân họ Hoàng nhập cư vào Quảng đông (广东省) từ Phúc Kiến. Họ Hoàng phát
triển trở nên dòng họ lớn và đứng thứ 3 ở Nam Trung Hoa ngày nay.
Thời gian giao thời giữa nhà Minh (明) (1368-1644) nhà Thanh (清)
(1644-1912), nhiều quan lại họ Hoàng theo lực lượng Nhà Minh chống nhà
Thanh dưới sự lãnh đạo của Trịnh Thành Công (郑成功) đã vượt biển sang Đài
Loan. Dân họ Hoàng vượt biển xuống Đông Nam Á chủ yếu vào đầu thế kỷ 14
thời nhà Minh.
Theo gia phả họ Hoàng ở Trung Quốc, đến thời quân Nguyên Mông xâm
lược Trung Hoa (1279), dựng nên triều Nguyên (Yuan-1279-1368), đây là
thời kỳ bước ngoặt lớn cho họ Hoàng, từ thời kỳ huy hoàng cực thịnh bước
vào thời kỳ suy tàn mà không thể nào khôi phục được.
Lần theo gia phả họ Hoàng, đến đời 131, Hoàng Bá Nghiêu/Giao 黄伯尧
(1340-1398), dời đến ở Cao sơn (Gaoshan), Zhangpu (nay thuộc làng
Gaoshan thị trấn Shaxi, huyện Zhangpu , tỉnh Phúc Kiến),
http://sites.google.com/a/hoanghuynhtoc.org/gia-nh-h-ho-ng-hu-nh/Ngu%E1%BB%93n-g%E1%BB%91c-H%E1%BB%8D-Ho%C3%A0ng/Luongdicu.gif
Đến đời 134, Hoàng Thiêm Hải (黄添海), tên riêng là Hoàng Cung (黄恭),
chuyển đến Jiaotou, Dongbo, Dongshan (nay là Dongling, huyện Dongshan,
tỉnh Phúc Kiến-Fujian), thời vua Hongzhi (1488-1505) đời nhà Minh. Một
cháu nội của ông ta tên là Hoàng Kế 黄继, dời đến Cao Khanh (高坑) (nay là
thị tứ Meiling), huyện Zhao'an hình thành nên dòng họ Hoàng Cao Khanh.
Như vậy, Huang Tianhai được xem như là ông tổ của dòng họ Hoàng Cao
Khanh, huyện Zhao’an, tỉnh Phúc Kiến. Đời 136, Huang Ji (黄继) Hoàng Chi,
thuộc nhà Minh vua Minh Gia Tĩnh (明嘉靖:1522-1567), ông là cha của 6 người
con (con út là con nuôi thuộc dòng Hoàng Ziyun). Từ đây hình thành nên 6
nhánh lớn họ Hoàng gọi là 6 nhánh họ Hoàng ở Cao Khanh. Đời thứ 137,
Huang Tu (黄徒 Hoàng Đồ), tiếp tục sống tại Cao Khanh Zhao’an. Đời thứ 138
(không rõ tên), chuyển đến ở làngTianpan, Cao Khanh lập nên đền Thiệu
Kế Đường (绍继堂). Từ đây đến đời 145 (thuộc cuối nhà Minh đến nhà Thanh)
gia phả bị mất hoàn toàn do cuộc đại cách mạng văn hoá (1966-1976).
Các luồng di cư của dân cư họ Hoàng ở Phúc Kiến và Quảng Đông
Bản đồ chỉ đưa ra 4 nhánh lớn của họ Hoàng di cư ở Phúc Kiến và Quảng Đông bao gồm:
1. Nhánh Gangzhou 冈 州 派 -Cương Châu phái (hậu duệ của Hoàng Thao- 黄滔-Huang Tao 840-911)
2. Nhánh Heping 禾 坪 派- Hoà Bình phái (Hậu duệ của Hoàng Tiễu Sơn 黄峭山-Huang Qiaoshan)
3. Nhánh Qingshan Huqiu 青 山 虎 丘 派- Thanh Sơn Hổ Khâu phái (Hậu duệ
của Hoàng Khánh Đôn 黄庆敦-Huang Qingdun, con trai của Hoàng Đôn 黄敦- Huang
Dun 740-797).
4. Nhánh Ziyun 紫 云 派- Tử Vân phái (Hậu duệ của Hoàng Thủ Cung 黄守恭 629-712)
Tộc uớc của họ Hoàng Giang Hạ
Hoàng Thị Gia Huấn
Tộc ước họ Hoàng Giang Hạ
(Hoàng Minh Tuyển lược dịch)
1.Luôn luôn kính trọng người già, đây là đức hạnh quan trọng bậc
nhất. Đừng có bao giờ làm trái lại mà phương hại đến bản tính của mình.
Mong rằng con cháu họ Hoàng luôn giáo dục điều này trong mỗi gia đình.
2. Đối xử với họ hàng như người trong gia đình mình, vì chúng ta là
cùng một cội rễ, thậm chí là họ hàng xa. Đừng bao giờ xem như là kẻ thù
mà hãy xem như trong một gia đình và thương yêu lẫn nhau.
3. Đối xử tốt với hàng xóm vì chúng ta sống trong cùng một cộng đồng,
cùng uống chung một nguồn nước. Luôn luôn xem hàng xóm là bè bạn, giúp
đỡ lẫn nhau, đừng bao giờ hại nhau. Hãy gần gũi với hàng xóm như thịt
xương, xem đây là bổn phận của mình.
4. Luôn lịch thiệp, sẵn sàng giúp đỡ mọi người vì đây là phương sách
ứng xử trong nhân gian; đừng bao giờ chỉ hạ mình và tự kiêu tự đại, luôn
luôn tỏ ra khiêm nhường.
5. Chăm chỉ làm việc, trau dồi kỹ năng nghề nghiệp dù cho mình đang
làm nghề gì, ở điạ vị nào. Có như vậy mới trở thành chuyên gia giỏi, tạo
dựng nên sự nghiệp và luôn là người không chịu lệ thuộc.
6. Kính trọng các quân nhân, đánh giá đúng, đầy đủ công ơn của họ vì
họ là người đã hy sinh thân mình cho chúng ta. Hãy luôn nhớ lấy điều
này.
7. Học hỏi từ cách cách đối xử với nhân gian, đây là nền tảng của giáo dục.
8. Chăm sóc mồ mả, hàng năm cần phải thăm nom mồ mả tổ tiên, và cúng bái đầy đủ.
9. Đặt tên con cháu tránh kỵ huý, xúc phạm với tổ tiên, người cao tuổi.
10. Tránh tranh dành, kiện tụng trong cùng một gia đình dẫn đến mất anh em, tan nát gia đình
11. Mỗi hành động của mình phải minh bạch, chính đáng. Đừng tham lam
tiền bạc và bày đặt những việc xảo trá…Hãy suy nghĩ thật kỹ lưỡng trước
khi thấy mối lợi .
12. Tránh xúc phạm tổ tiên. Đây là truyền thống có từ lâu đời để phân biệt sang hèn. Hãy noi gương và tiếp bước cha anh.
13. Tránh đi lầm đường lạc lối. Toàn thể hộ tộc một lòng đề phòng và
chống lại điều này. Khi nghe người khác nói những lời xấu xa độc ác thì
hãy tránh xa để tránh nguy hại.
14. Tuân thủ pháp luật
15. Gìn giữ, trân trọng tộc ước vì đã được soạn do tổ tiên xa xưa để
lại. Hãy luôn để bên mình và trong gia đình mình. Tộc ước nói lên giá
trị đích thực của họ tộc.
4. Một số thông tin tham khảo
giải thích gốc tích họ Hoàng như sau:
Nghiên cứu về nguồn gốc họ Hoàng, bộ Bách Tính Tầm Nguyên nói rằng:
Dưới đời Phục Hy Thị, một nhà có tám anh em chia nhau nỗi người đi một
phương, lập thành tám bộ lạc khác nhau. Có một người đến một chỗ thung
lũng bạt cỏ làm ruộng. Trong đời Thần Nông Thị ngoài đó đã trở thành một
bộ lạc có sức mạnh, có thế lớn nổi tiếng là người Hiên Viên. Bộ lạc này
biết chế tạo và sử dụng vũ khí để đánh dẹp gây dựng nên một bộ lạc hùng
cường. Rồi cũng vì ý thức tìm về nguồn gốc, người Hiên Viên ghi lại bộ
phát tích của Tổ tiên. Một trong tám anh em, họ dùng chữ Nhất là Một, và
chữ Bát là Tám. Phá cỏ làm ruộng, họ dùng chữ Thảo là Cỏ và chữ Điền là
Ruộng. Bốn chữ: Nhất, Bát, Thảo, Điền đem sắp xếp gọn lại thành chữ
Hoàng Bộ lạc Hiên Viên dùng chữ Hoàng để làm Họ. Sau này họ Hoàng xưng
đế thay Thần Nông Thị gọi là Hoàng đế Hiên Viên. Hoàng đế là vua thứ Ba
trong Ngũ Đế: Phục Hy Thị, Thần Nông Thị, Hoàng Đế, Đế Nghiêu, Đế Thuấn.
(Chú ý: Trong gia phả, họ Hoàng ta không dùng chữ 黄mà dùng chữ 黃để
phân biệt với một họ Hoàng khác cũng ở Quảng Hà mà ta gọi là họ Hoàng
Ngoại hay là Hoàng Mạc có nguồn gốc là họ Mạc, chạy từ Hải Dương-Hưng
Yên vào sau khi nhà Lê chiếm lại ngôi từ nhà Mạc)
Kiukimho (
thảo luận) 02:39, ngày 22 tháng 6 năm 2009 (UTC)