Nâng cấp


GIỚI THIỆU * KHUYẾN HỌC * LIÊN HỆ * NHÂN VẬT SỰ KIỆN * PHẢ HỆ HỌ HOÀNG: VIỆT NAM - VẠN PHÚC * THƯ MỜI VÀ THÔNG BÁO * TIN TỨC HOẠT ĐỘNG * VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

Cổng thông tin liên lạc họ Hoàng Vạn Phúc đang trong thời gian nâng cấp. Để nội dung phong phú và sát thực hơn xin mời Quý vị quay lại sau và liên hệ cùng xây dựng.

Thứ Tư, 11 tháng 4, 2012

NẾP NHÀ KHOA BẢNG


 
 Họ Hoàng chúng ta có truyền thống coi trọng việc học. Nhiều gia đình có hoàn cảnh khó khăn nhưng cũng cố gắng lo cho con cháu học hành tới nơi tới chốn. Người nghèo mà có học vấn thì càng được bà con quí trọng. Ấy là nếp nhà, xưa  nay đều như vậy.
     Người khai khoa cho họ Hoàng là ngài Hoàng Hữu Xứng (Đ.13), đỗ Cử nhân khoa Nhâm Tý (1852), dưới triều vua Tự Đức, hàm phong Hiệp Biện Đại Học Sĩ. Em trai ngài Hữu Xứng là Hữu Bỉnh, đỗ Cử nhân năm Tân Mão (1891), hàm phong Thái Thường Tự Khanh. Con trai trưởng của ngài Hữu Xứng là Hữu Bính, đỗ Hoàng Giáp khoa thi Tiến sĩ năm Kỷ Sửu (1889). Ba người em trai của ngài Hữu Bính là Hữu Quản, Hữu Quỵ, Hữu Kiệt và con con trưởng là Hữu Thảng đều đỗ cử nhân. Đương thời, hiếm thấy gia đình nào khoa danh rực rỡ như vậy. Có thể nói là một nhà, long phụng tề phi. Hiện tượng nầy không chỉ xảy ra một lần. Bước qua thời kỳ Tây học, Hoàng Hữu Chỉ đỗ đầu kỳ thi tiểu học toàn tỉnh Quảng Trị. Cùng khoa thi Tiểu học năm ấy, Hoàng Phủ Ngọc Tường đỗ đầu toàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Mấy năm sau, Hoàng Phủ Ngọc Tường lại đỗ thủ khoa kỳ thi Trung Học Phổ Thông với điểm số cao nhất toàn miền Trung.
     Trong vòng vài thập niên gần đây họ Hoàng lại có thêm một thành tích học tập rất đáng tự hào: gia đình ông Hoàng Thạch Thiết  (Đ.17) có 4 người con thì 2 con trai là Hoàng Thạch Quân  và Hoàng Thạch Luân đều đỗ Tiến sĩ (Ph.D) .Còn hai cô con gái là Hoàng Thị An Vi  và Hoàng thị Tề My thì lấy đến 5 bằng Thạc sĩ (Master) ở Hoa Kỳ.
     Nhìn chung  trong các gia đình họ Hoàng hiện nay, những bằng cấp thạc sĩ, bác sĩ, kỹ sư, cử nhân, cao đẳng… không phải là hiếm. Riêng học vị Tiến sĩ đã có 5 người xứng đáng vinh danh. Đó là: Hoàng Hữu Hiên (Đ.15); Hoàng Minh Chương (Đ.15); Hoàng Hữu Đường(Đ.16); Hoàng Thạch Quân (Đ.18); Hoàng Thạch Luân (Đ.18).

VINH DANH HỌC VỊ TIẾN SĨ



NGŨ MUỘI ghi.


Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

VIẾT VỀ THUỶ TỔ CỦA DÒNG HỌ

BẢN THẢO


     1. Nguồn gốc họ Hoàng

    Theo bộ Bách Tính Tầm Nguyên (Trung Quốc)dưới thời Phục Hy Thị, một nhà có 8 anh em chia nhau mỗi người đi một phương, lập thành 8 bộ lạc khác nhau, trong đó có bộ Lạc người Hiên Viên nổi tiếng vì biết phát cỏ làm ruộng, biết chế tạo và sử dụng vũ khí để đánh dẹp. Đến thời Thần Nông Thị, bộ lạc người Hiên Viên đã phát triển thành bộ lạc hùng cường, rất có thế lực. Để nhớ về nguồn cội, người Hiên Viên ghi lại bộ phát tích của tổ tiên mình theo điển tích: Một trong 8 anh em, họ dùng chữ Nhất là Một và chứ Bát là Tám; Phát cỏ làm ruộng, họ dùng chữ Thảo là Cỏ và chữ Điền là Ruộng. Bốn chữ: Nhất, Bát, Thảo, Điền đem sắp xếp gọn lại thành chữ HOÀNG để làm họ. Sau này họ Hoàng xưng đế thay Thần Nông Thị gọi là Hoàng Đế Hiên Viên. Hoàng Đế là vua thứ ba trong Ngũ Đế: Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn.

    Theo gia phả họ Hoàng ( Trung Quốc): Kể từ khi Huệ Liên, con trai của Lục Chung, hậu duệ của Hoàng Đế được vua Thuấn  ban cho đất Tham Hồ (nay là đất Sơn Dương, tỉnh Sơn Tây), đến năm 2200 trước công nguyên (TCN), thì đổi thành đất của nước Hoàng, và ban cho Huệ Liên thành họ Hoàng, tên Yun từ đấy con cháu họ Hoàng thay nhau cai trị đất này cho đến thời Xuân Thu (722- 482 TCN), thì bị nước Tấn chiếm mất. Như vậy, kể từ đời Hoàng Đế đến Huang Yun, tất cả 12 đời.

 Vào năm 891 TCN, Chu Thảo Vương phong hầu cho Hoàng Hi, con trai của Hoàng Thạch, hậu duệ thứ 53 của Huệ Liên và phong cho đất ở vùng phía Đông sông Hán (nay thuộc đất Nghi Thành, Hồ Bắc, vốn là lãnh địa của 4 nước Giang, Hoàng, Đạo, Bá), gọi là nước Hoàng. Nước Hoàng ở Nghi Thành, Hồ Bắc được xem như nước Tây Hoàng trong lịch sử. Vào năm 845 TCN, Hoàng Mạnh, aka của Hoàng Chương dời đô nước Hoàng từ Nghi Thành về Hoàng Xuyên, tỉnh Hà Nam, lập lên nước Hoàng mới và thay nhau thống trị đến năm 648 TCN thì bị nước Sở chiếm. Hầu mục Hoàng Xí Sanh chạy thoát, lánh sang nước Tề (nay là tỉnh Sơn Đông). Thần dân nước Hoàng buộc phải di chuyển về đất nhà Chu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc), nơi được gọi là Giang Hạ quận thời nhà Hán (nay là Hán Vũ). Ngày nay nhiều nơi ở vùng này vẫn còn mang tên Hoàng, như Hoàng Mai, Hoàng Thạnh, Hoàng Cương, Hoàng Pha... Một phần lớn thần dân  nước Hoàng dời đến vùng phía Nam sông Trường Giang, Dương Tử, dần dần đồng hoá dân địa phương thành dân tiểu số, là họ Hoàng không thuần Hán đang sống ở vùng Nam Trung Quốc ngày nay. Từ Giang Hạ, họ Hoàng đi khắp Trung Hoa và thế giới. Từ đây Giang Hạ được xem như là cái nôi của họ Hoàng. Ngày nay họ Hoàng được gọi là Hoàng Giang Hạ, và tên gọi Giang Hạ tương đồng với họ Hoàng.

    Sau ba thế kỷ suy tàn, họ Hoàng được phục hưng khi Hoàng Hiết, hậu duệ họ Hoàng được tiến cử làm Tể tướng nhà Chu, được phong là lãnh Chúa Xuân Thân (314 - 238 TCN). Đến thời nhà Hán, họ Hoàng bước vào thời kỳ cực thịnh khi Hoàng Bá (130 - 51 TCN) lại được phong làm Tể tướng .

    Khi quân Nguyên Mông xâm lược Trung Hoa (1279), dựng lên triều Nguyên (Yuan 1279 - 1368), họ Hoàng từ thời kỳ huy hoàng cực thịnh bước vào thời kỳ suy tàn không thể khôi phục được.

    Vào thời nhà Tấn (265 - 420), rợ Hồ xâm chiếm phía Bắc Trung Hoa, nhiều cư dân họ Hoàng theo vua Tấn di cư xuống phía Nam. Đây chính là thời gian họ Hoàng nhập cư vào Phúc Kiến. Đến đời nhà Đường (618 - 970 SCN) thì nhập cư vào Quảng Đông, rồi phát triển trở thành dòng họ lớn và đứng thứ 3 ở Nam Trung Hoa ngày nay.

    Cuối nhà Minh (1368 - 1644), nhiều quan lại họ Hoàng theo Trịnh Thành Công phục Minh, chống Nhà Thanh (1644 - 1912) bị thất bại, đã vượt biển trốn sang Đài Loan và xuống vùng Đông Nam Á, trong đó có nước ta.

   Như vậy, kể từ ông tổ (Huang Yun - 2253 TCN), tính đến nay đã là 4200 năm, trải qua trên 550 đời.

    Theo từ điển Bách Khoa Toàn Thư, đến năm 2000 họ Hoàng có dân số trên toàn thế giới khoảng 37 triệu người. Họ Hoàng ở Trung Quốc và Đài Loan xếp thứ 8 trong các dòng họ với 29 triệu người và hơn 3 triệu Hoa kiều. Triều Tiên có 1 triệu người. Hàn Quốc có  644.294 người họ Hoàng, xếp thứ 17 trong các dòng họ.

    Ở Việt Nam, đến nay có khoảng 4.3 triệu người mang họ Hoàng. Ở Nam Việt Nam, do huý kỵ chúa Nguyễn Hoàng nên họ Hoàng được đọc chệch thành Huỳnh từ hơn 300 năm nay. Hiện nay Ban Liên Lạc họ HOÀNG - HUỲNH trong cả nước đã được thành lập tại WWebsite: http://Banlienlachohooanghuynh.com.vn.

     2. Thuỷ tổ họ HOÀNG ĐÌNH thôn Lũ Phong

    Căn cứ vào số tuổi thọ trung bình của các thế hệ cộng lại mà suy luận thì Thuỷ tổ họ Hoàng Đình ta đến lập nghiệp tại làng Xú, thôn Lũ Phong ngày nay, vào khoảng  cuối Thế kỷ 17 cùng với ít nhất là một người em gái. Vì theo các cụ thế hệ thứ 4, thứ 5 truyền miệng lại thì mộ bà cô tổ đang an táng ở thế chân vạc tại cánh đồng làng Mụa, rất phát cho con cháu về nghề ca hát.

    Do chiến tranh loạn lạc, cuốn phả viết bằng tiếng Hán bị cháy và thất lạc, nên đến nay con cháu họ Hoàng thôn Lũ phong đều chưa biết đích xác cụ Thuỷ tổ quê quán gốc gác ở đâu? Bố mẹ là ai? Có mấy anh chị em ? Sinh năm nào? Lý do đến làng Xú lập nghiệp? Sinh thời cụ làm gì?..v.v và v.v...?

      Bà Thuỷ tổ tên tuổi, quê quán, họ hàng anh em...ra sao? Đều  chưa biết? Thật đáng tiếc thay!

    Tính từ khi hai cụ Thuỷ tổ - thế hệ thứ 1, đến lập nghiệp tại làng Xú vào cuối Thế kỷ XVII, sinh ra năm người con trai, lập nên 5 phái họ Hoàng Đình bây giờ, cho đến năm 2010, con cháu họ HOÀNG ĐÌNH đã phát triển đến thế hệ thứ thứ 9, có trên 700 gia đình, với gần 900 nhân khẩu, cư ngụ ở 18 tỉnh, thành trong cả nước và 2 nước ngoài là Thái Lan và Lào. Nhưng tập trung nhiều nhất tại quê Tổ (làng Lũ Phong) và các tỉnh Nam Định, Hà Nội, Thái Nguyên, Ninh Bình, Thanh Hoá, Gia Lai, Biên Hoà, Bà Rịa - Vũng Tàu, An Giang...Rất nhiều thành viên trong họ thuộc thế hệ thứ 4,5,6.. là những xã viên giỏi, ba đảm đang, là công chức mẫn cán, là bộ đội cụ Hồ và nhiều người đã hy sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.Tiếp bước cha ông, thế hệ thứ 7, 8 họ ta đang ra sức học tập, tu dưỡng và phấn đấu không ngừng, rất nhiều cháu có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp...đã đang công tác trong cơ quan nhà nước, trong lĩnh vực kinh tế và lực lượng vũ trang, các gia đình trong họ tộc làm ăn ngày một khá giả, thành đạt và rất quan tâm chăm lo khuyến khích con cháu học tập, tu luyện đức, tài. Đó là hành động thiết thực nhất của con cháu đền đáp công ơn đối với Thuỷ Tổ?

    Thuỷ Tổ mất ngày 12/11 âm lịch. Vào ngày này hàng năm con cháu trong họ dù làm ăn xa, cũng đều tụ tập về làng Lũ Phong để tham gia giỗ Tổ như một nghĩa cử tri ân với người quá cố. Đây cũng là dịp con cháu toàn họ mạc gặp nhau chia sẻ thông tin, hỏi thăm, giúp đỡ tương trợ lẫn nhau và cũng là dịp ôn cố tri tân và bàn định những việc lớn trong họ tộc trong tương lai.

    Mộ phần của cụ Thuỷ tổ an táng tại Gò Voi, xóm Chợ, làng Lũ Phong, Yên Ninh, Ý Yên, Nam Định.

    Nhà thờ tổ được con cháu đóng góp tài vật xây dựng từ năm 1993 đến năm 1995 thì hoàn thành. Nhà thờ Tổ toạ lạc trên phần đất của gia đình ông Hoàng Đình Thông, thuộc đời thứ 6, chi 2, phái trưởng cung hiến và được giao cho Trưởng tộc các đời nối nhau quản lý, hương khói mỗi ngày đầu tháng và ngày rằm hàng tháng, đồng thời có nhiệm vụ tổ chức cúng giỗ, trùng tu tôn tạo hàng năm.

    Sưu tầm và biên soạn Hoàng Đình Khải.


Thảo luận:Dòng họ Hoàng

Nguồn gốc Họ Hoàng

1. Một số cách phát âm khác nhau của từ họ Hoàng
Huang, Hwang (Mandarin-Quan thoại ) Wong (Quảng Đông /Yue, Fuzhou, Hakka/Kejia, Gan) Bong (Hakka/Kejia) Huỳnh, Hoàng (Việt Nam) Hwang (Korean, Triều Tiên) Ng (Phúc Kiến/Min, Teochiew/Chaoshan) Oei, Ooi, Oi, Wee (Hokkien/Min) Ong (Phát âm chệch của "Ng")
Trích lọc thông tin từ trang WEB http://www.geocities.com/bx_huang/ xác định gốc tích họ Hoàng như sau:

2. Gốc tích họ Hoàng
Họ Hoàng ở Trung Quốc xếp thứ 8 trong các dòng họ và có dân số (tính trên toàn thế giới) khoảng 32 triệu người (năm 2005). Trong bản bách tính gia (百家姓), họ Hoàng chép ở số thứ tự 96.
Từ đời nhà Shun (帝舜)(Thuấn đế), Hui Lian 惠连 (Huệ Liên), con trai của Lu Zhong 陆终 (Lục Chung), hậu duệ của Hoàng Đế (黄帝) đã thành công trong việc chế ngự lũ lụt, vua Shun (Thuấn) ban đất Can'hu (参胡) (Tham Hồ), ngày nay là đất Fenyang (汾阳) (Phần Dương)tỉnh Shanxi (山西省) (Sơn Tây). Vào năm 2200 trước công nguyên, vua Shun đổi tên đất Can'hu thành đất của nước Hoàng (黄国)và ban họ cho Hui Lian thành họ Hoàng (黄), tên là Yun (云) (Vân). Từ đấy, con cháu họ Hoàng cai trị đất này cho đến thời Xuân Thu (春秋时代) (722- 481 trước công nguyên). Sau đó rơi vào tay nước Jin (晋国) (Tấn Quốc).
Như vậy, từ đời Hoàng Đế đến Hui Lian tất cả 12 đời như sau: (1) 黄帝 Hoàng Đế (Huang Di), (2) Chang Yi 昌意(Xương Ý), (3)Zhuan Xu (Emperor) 帝颛须,(Chuyên Tu đế) (4)Qiong Chan 穷蝉 (Cùng Thiền), (5)Nu Xiu 女修,(Nữ Tu), (6)Lao Tong 老童 (Lão Đồng), (7)Shao Xin 少辛 (Thiểu Tân),(8)Juan Zhang 卷章 (Quyển Chương),(9)Zhong Li 重黎 (Trọng Lê) ,(10)Wu Hui 吴回 (Ngô Hồi) ,(11)Lu Zhong 陆终 (Lục Chung),(12)Hui Lian 惠连 (Huệ Liên). Tính đến nay đã là 4200 năm kể từ ông tổ Hui Lian (Huang Yun – 2253TCN).

3. Sự phát triển
Vào năm 891 trước CN, Chu Thảo Vương (Zhou Xiao Wang) 周孝王 phong Hầu cho Hoàng Hi (黄熙) (con trai (aka) của Huang Shi 黄石-Hoàng Thạch), hậu duệ thứ 53 của Huệ Liên (惠连) và phong đất vùng phiá đông sông Hán (汉水) (ngày nay thuộc vùng Nghi Thành (Yicheng) (宜城) tỉnh Hồ Bắc (湖北) gọi là đất Hoàng (lưu ý đất này khác với nước Hoàng ở Phần Dương, tỉnh Sơn Tây). Lãnh địa này gồm 4 nước: Giang (江), Hoàng (黄) - được gây dựng do hậu duệ của Bá Ích (伯益), Đạo (道), Bá (伯), nằm trong thung lũng sông Hoàng (潢水). Nước Hoàng ở Nghi Thành, Hồ Bắc được xem như nước Tây Hoàng (西黄) trong lịck sử. Vào năm 845 trước CN, Hầu Văn (文侯) Hoàng Mạnh (黄孟), aka của Hoàng Chương (黄璋) dời đô nước Hoàng từ Nghi Thành về Hoàng Xuyên (Huangchuan) (潢川), tỉnh Hà Nam và lập nên nước Hoàng mới. Hậu duệ của Hoàng Hi (黄熙) thống trị đất Hoàng cho đến năm 648 TCN sau đó bị nước Sở, một chư hầu của Nhà Chu chiếm mất. Hầu Mục (穆侯) Hoàng Xí Sanh (黄企生) chạy thoát sang lánh ở nước Tề (齐国) (ngày nay thuộc Linzi, tỉnh Sơn Đông (山东省)). Thần dân nước Hoàng buộc di chuyển về đất nhà Chu ngày nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, nơi mà được gọi là Giang Hạ quận (Jiangxia 江夏郡) thời nhà Hán (汉朝) (nay là Vũ Hán). Ngày nay, nhiều nơi ở vùng này vẫn còn có tên là Hoàng như Hoàng Cương (黄冈), Hoàng Pha (黄陂), Hoàng Mai (黄梅), Hoàng Thạch (黄石). Một phần lớn thần dân Hoàng cũng dời đến vùng phía Nam sông Trường giang/Giang Tế (Dương tử) (长江), dần dần đồng hoá với dân địa phương mà thành dân thiểu số họ Hoàng không thuần Hán đang sống ở vùng nam Trung Quốc ngày nay.
Từ Giang Hạ, dần dần họ Hoàng đi khắp Trung Hoa và trên thế giới. Từ đây, Giang Hạ được xem như là cái nôi của họ Hoàng. Ngày nay, họ Hoàng được gọi là Hoàng Giang Hạ và tên gọi Giang Hạ tương đồng với họ Hoàng.
Sau 3 thế kỷ suy tàn, họ Hoàng được phục hưng khi Hoàng Hiết (黄歇), một hậu duệ của gia đình quý tộc họ Hoàng đã được tiến cử làm tể tướng nhà Chu. Hoàng Hiết được phong là lãnh chúa Xuân Thân (春申君) sống vào năm (314-238 TCN). Thời nhà Hán, Hoàng Bá (黄霸) (130 - 51 TCN) lại được phong làm tể tướng. Họ Hoàng bước vào thời kỳ cực thịnh trong thời nhà Hán
Vào thời nhà Tấn (晋朝) (265-420), rợ Hồ xâm lấn phía Bắc Trung Hoa, nhiều dân cư sống phía bắc (đặc biệt là các gia đình quan lại) di chuyển xuống phía nam cùng với nhà Tấn. Đây chính là thời gian dân họ Hoàng nhập cư vào Phúc Kiến (福建省). Từ đời nhà Đường (618-907 sau CN) về sau, dân họ Hoàng nhập cư vào Quảng đông (广东省) từ Phúc Kiến. Họ Hoàng phát triển trở nên dòng họ lớn và đứng thứ 3 ở Nam Trung Hoa ngày nay.
Thời gian giao thời giữa nhà Minh (明) (1368-1644) nhà Thanh (清) (1644-1912), nhiều quan lại họ Hoàng theo lực lượng Nhà Minh chống nhà Thanh dưới sự lãnh đạo của Trịnh Thành Công (郑成功) đã vượt biển sang Đài Loan. Dân họ Hoàng vượt biển xuống Đông Nam Á chủ yếu vào đầu thế kỷ 14 thời nhà Minh.
Theo gia phả họ Hoàng ở Trung Quốc, đến thời quân Nguyên Mông xâm lược Trung Hoa (1279), dựng nên triều Nguyên (Yuan-1279-1368), đây là thời kỳ bước ngoặt lớn cho họ Hoàng, từ thời kỳ huy hoàng cực thịnh bước vào thời kỳ suy tàn mà không thể nào khôi phục được.
Lần theo gia phả họ Hoàng, đến đời 131, Hoàng Bá Nghiêu/Giao 黄伯尧 (1340-1398), dời đến ở Cao sơn (Gaoshan), Zhangpu (nay thuộc làng Gaoshan thị trấn Shaxi, huyện Zhangpu , tỉnh Phúc Kiến),
http://sites.google.com/a/hoanghuynhtoc.org/gia-nh-h-ho-ng-hu-nh/Ngu%E1%BB%93n-g%E1%BB%91c-H%E1%BB%8D-Ho%C3%A0ng/Luongdicu.gif
Đến đời 134, Hoàng Thiêm Hải (黄添海), tên riêng là Hoàng Cung (黄恭), chuyển đến Jiaotou, Dongbo, Dongshan (nay là Dongling, huyện Dongshan, tỉnh Phúc Kiến-Fujian), thời vua Hongzhi (1488-1505) đời nhà Minh. Một cháu nội của ông ta tên là Hoàng Kế 黄继, dời đến Cao Khanh (高坑) (nay là thị tứ Meiling), huyện Zhao'an hình thành nên dòng họ Hoàng Cao Khanh. Như vậy, Huang Tianhai được xem như là ông tổ của dòng họ Hoàng Cao Khanh, huyện Zhao’an, tỉnh Phúc Kiến. Đời 136, Huang Ji (黄继) Hoàng Chi, thuộc nhà Minh vua Minh Gia Tĩnh (明嘉靖:1522-1567), ông là cha của 6 người con (con út là con nuôi thuộc dòng Hoàng Ziyun). Từ đây hình thành nên 6 nhánh lớn họ Hoàng gọi là 6 nhánh họ Hoàng ở Cao Khanh. Đời thứ 137, Huang Tu (黄徒 Hoàng Đồ), tiếp tục sống tại Cao Khanh Zhao’an. Đời thứ 138 (không rõ tên), chuyển đến ở làngTianpan, Cao Khanh lập nên đền Thiệu Kế Đường (绍继堂). Từ đây đến đời 145 (thuộc cuối nhà Minh đến nhà Thanh) gia phả bị mất hoàn toàn do cuộc đại cách mạng văn hoá (1966-1976).
Các luồng di cư của dân cư họ Hoàng ở Phúc Kiến và Quảng Đông
Bản đồ chỉ đưa ra 4 nhánh lớn của họ Hoàng di cư ở Phúc Kiến và Quảng Đông bao gồm:
1. Nhánh Gangzhou 冈 州 派 -Cương Châu phái (hậu duệ của Hoàng Thao- 黄滔-Huang Tao 840-911)
2. Nhánh Heping 禾 坪 派- Hoà Bình phái (Hậu duệ của Hoàng Tiễu Sơn 黄峭山-Huang Qiaoshan)
3. Nhánh Qingshan Huqiu 青 山 虎 丘 派- Thanh Sơn Hổ Khâu phái (Hậu duệ của Hoàng Khánh Đôn 黄庆敦-Huang Qingdun, con trai của Hoàng Đôn 黄敦- Huang Dun 740-797).

4. Nhánh Ziyun 紫 云 派- Tử Vân phái (Hậu duệ của Hoàng Thủ Cung 黄守恭 629-712)
Tộc uớc của họ Hoàng Giang Hạ
Hoàng Thị Gia Huấn
Tộc ước họ Hoàng Giang Hạ
(Hoàng Minh Tuyển lược dịch)
1.Luôn luôn kính trọng người già, đây là đức hạnh quan trọng bậc nhất. Đừng có bao giờ làm trái lại mà phương hại đến bản tính của mình. Mong rằng con cháu họ Hoàng luôn giáo dục điều này trong mỗi gia đình.
2. Đối xử với họ hàng như người trong gia đình mình, vì chúng ta là cùng một cội rễ, thậm chí là họ hàng xa. Đừng bao giờ xem như là kẻ thù mà hãy xem như trong một gia đình và thương yêu lẫn nhau.
3. Đối xử tốt với hàng xóm vì chúng ta sống trong cùng một cộng đồng, cùng uống chung một nguồn nước. Luôn luôn xem hàng xóm là bè bạn, giúp đỡ lẫn nhau, đừng bao giờ hại nhau. Hãy gần gũi với hàng xóm như thịt xương, xem đây là bổn phận của mình.
4. Luôn lịch thiệp, sẵn sàng giúp đỡ mọi người vì đây là phương sách ứng xử trong nhân gian; đừng bao giờ chỉ hạ mình và tự kiêu tự đại, luôn luôn tỏ ra khiêm nhường.
5. Chăm chỉ làm việc, trau dồi kỹ năng nghề nghiệp dù cho mình đang làm nghề gì, ở điạ vị nào. Có như vậy mới trở thành chuyên gia giỏi, tạo dựng nên sự nghiệp và luôn là người không chịu lệ thuộc.
6. Kính trọng các quân nhân, đánh giá đúng, đầy đủ công ơn của họ vì họ là người đã hy sinh thân mình cho chúng ta. Hãy luôn nhớ lấy điều này.
7. Học hỏi từ cách cách đối xử với nhân gian, đây là nền tảng của giáo dục.
8. Chăm sóc mồ mả, hàng năm cần phải thăm nom mồ mả tổ tiên, và cúng bái đầy đủ.
9. Đặt tên con cháu tránh kỵ huý, xúc phạm với tổ tiên, người cao tuổi.
10. Tránh tranh dành, kiện tụng trong cùng một gia đình dẫn đến mất anh em, tan nát gia đình
11. Mỗi hành động của mình phải minh bạch, chính đáng. Đừng tham lam tiền bạc và bày đặt những việc xảo trá…Hãy suy nghĩ thật kỹ lưỡng trước khi thấy mối lợi .
12. Tránh xúc phạm tổ tiên. Đây là truyền thống có từ lâu đời để phân biệt sang hèn. Hãy noi gương và tiếp bước cha anh.
13. Tránh đi lầm đường lạc lối. Toàn thể hộ tộc một lòng đề phòng và chống lại điều này. Khi nghe người khác nói những lời xấu xa độc ác thì hãy tránh xa để tránh nguy hại.
14. Tuân thủ pháp luật
15. Gìn giữ, trân trọng tộc ước vì đã được soạn do tổ tiên xa xưa để lại. Hãy luôn để bên mình và trong gia đình mình. Tộc ước nói lên giá trị đích thực của họ tộc.
4. Một số thông tin tham khảo
giải thích gốc tích họ Hoàng như sau:
Nghiên cứu về nguồn gốc họ Hoàng, bộ Bách Tính Tầm Nguyên nói rằng: Dưới đời Phục Hy Thị, một nhà có tám anh em chia nhau nỗi người đi một phương, lập thành tám bộ lạc khác nhau. Có một người đến một chỗ thung lũng bạt cỏ làm ruộng. Trong đời Thần Nông Thị ngoài đó đã trở thành một bộ lạc có sức mạnh, có thế lớn nổi tiếng là người Hiên Viên. Bộ lạc này biết chế tạo và sử dụng vũ khí để đánh dẹp gây dựng nên một bộ lạc hùng cường. Rồi cũng vì ý thức tìm về nguồn gốc, người Hiên Viên ghi lại bộ phát tích của Tổ tiên. Một trong tám anh em, họ dùng chữ Nhất là Một, và chữ Bát là Tám. Phá cỏ làm ruộng, họ dùng chữ Thảo là Cỏ và chữ Điền là Ruộng. Bốn chữ: Nhất, Bát, Thảo, Điền đem sắp xếp gọn lại thành chữ Hoàng Bộ lạc Hiên Viên dùng chữ Hoàng để làm Họ. Sau này họ Hoàng xưng đế thay Thần Nông Thị gọi là Hoàng đế Hiên Viên. Hoàng đế là vua thứ Ba trong Ngũ Đế: Phục Hy Thị, Thần Nông Thị, Hoàng Đế, Đế Nghiêu, Đế Thuấn.
(Chú ý: Trong gia phả, họ Hoàng ta không dùng chữ 黄mà dùng chữ 黃để phân biệt với một họ Hoàng khác cũng ở Quảng Hà mà ta gọi là họ Hoàng Ngoại hay là Hoàng Mạc có nguồn gốc là họ Mạc, chạy từ Hải Dương-Hưng Yên vào sau khi nhà Lê chiếm lại ngôi từ nhà Mạc) Kiukimho (thảo luận) 02:39, ngày 22 tháng 6 năm 2009 (UTC)

Bách khoa toàn thư - Hoàng (họ)

Hoàng hay Huỳnh (chữ Hán: ) là một tên họ ở Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, và Triều Tiên. Họ Hoàng trong tiếng Trung có thể phiên âm Latinh thành Huang, Wong, Vong, Bong, Ng, Uy, Wee, Oi, Oei or Ooi, Ong, Hwang, hay Ung theo phương ngữ từng vùng. Họ Hoàng trong tiếng Triều Tiên được phiên âm thành Hwang.
Ở miền Nam Việt Nam, do kị húy chúa Nguyễn Hoàng nên họ Hoàng được đọc chệch thành Huỳnh từ hàng trăm năm nay.
Họ Hoàng là họ phổ biến thứ 7 ở Trung Quốc. Tổng số người họ Hoàng ở Trung Quốc và Đài Loan ước tính 29 triệu người, ngoài ra còn có hơn hai triệu người Hoa kiều mang họ này. 4,3 triệu người Việt và 1 triệu người Triều Tiên có họ Hoàng. Điều tra dân số năm 2000 của Hàn Quốc cho thấy đây là họ của 644.294 người, xếp thứ 17.[1].

Một số người họ Hoàng/Huỳnh Việt Nam nổi tiếng

Họ Hoàng

Họ Huỳnh

Một số người Trung Quốc họ Hoàng nổi tiếng

Một số người họ Hoàng/Huỳnh nổi tiếng khác