1. Nguồn gốc họ Hoàng
Theo bộ Bách Tính Tầm Nguyên (Trung Quốc)dưới thời Phục Hy Thị, một nhà
có 8 anh em chia nhau mỗi người đi một phương, lập thành 8 bộ lạc khác
nhau, trong đó có bộ Lạc người Hiên Viên nổi tiếng vì biết phát cỏ làm
ruộng, biết chế tạo và sử dụng vũ khí để đánh dẹp. Đến thời Thần Nông
Thị, bộ lạc người Hiên Viên đã phát triển thành bộ lạc hùng cường, rất
có thế lực. Để nhớ về nguồn cội, người Hiên Viên ghi lại bộ phát tích
của tổ tiên mình theo điển tích: Một trong 8 anh em, họ dùng chữ Nhất là
Một và chứ Bát là Tám; Phát cỏ làm ruộng, họ dùng chữ Thảo là Cỏ và chữ
Điền là Ruộng. Bốn chữ: Nhất, Bát, Thảo, Điền đem sắp xếp gọn lại thành
chữ HOÀNG để làm họ. Sau này họ Hoàng xưng đế thay Thần Nông Thị gọi là
Hoàng Đế Hiên Viên. Hoàng Đế là vua thứ ba trong Ngũ Đế: Phục Hy, Thần
Nông, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn.
Theo gia
phả họ Hoàng ( Trung Quốc): Kể từ khi Huệ Liên, con trai của Lục Chung,
hậu duệ của Hoàng Đế được vua Thuấn ban cho đất Tham Hồ (nay là đất Sơn
Dương, tỉnh Sơn Tây), đến năm 2200 trước công nguyên (TCN), thì đổi
thành đất của nước Hoàng, và ban cho Huệ Liên thành họ Hoàng, tên Yun từ
đấy con cháu họ Hoàng thay nhau cai trị đất này cho đến thời Xuân Thu
(722- 482 TCN), thì bị nước Tấn chiếm mất. Như vậy, kể từ đời Hoàng Đế đến Huang Yun, tất cả 12 đời.
Vào năm 891
TCN, Chu Thảo Vương phong hầu cho Hoàng Hi, con trai của Hoàng Thạch,
hậu duệ thứ 53 của Huệ Liên và phong cho đất ở vùng phía Đông sông Hán
(nay thuộc đất Nghi Thành, Hồ Bắc, vốn là lãnh địa của 4 nước Giang,
Hoàng, Đạo, Bá), gọi là nước Hoàng. Nước Hoàng ở Nghi Thành, Hồ Bắc được
xem như nước Tây Hoàng trong lịch sử. Vào năm 845 TCN, Hoàng Mạnh, aka
của Hoàng Chương dời đô nước Hoàng từ Nghi Thành về Hoàng Xuyên, tỉnh Hà
Nam, lập lên nước Hoàng mới và thay nhau thống trị đến năm 648 TCN thì
bị nước Sở chiếm. Hầu mục Hoàng Xí Sanh chạy thoát, lánh sang nước Tề
(nay là tỉnh Sơn Đông). Thần dân nước Hoàng buộc phải di chuyển về đất
nhà Chu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc), nơi được gọi là Giang Hạ quận thời nhà
Hán (nay là Hán Vũ). Ngày nay nhiều nơi ở vùng này vẫn còn mang tên
Hoàng, như Hoàng Mai, Hoàng Thạnh, Hoàng Cương, Hoàng Pha... Một phần
lớn thần dân nước Hoàng dời đến vùng phía Nam sông Trường Giang, Dương
Tử, dần dần đồng hoá dân địa phương thành dân tiểu số, là họ Hoàng không
thuần Hán đang sống ở vùng Nam Trung Quốc ngày nay. Từ Giang Hạ, họ
Hoàng đi khắp Trung Hoa và thế giới. Từ đây Giang Hạ được xem như là cái
nôi của họ Hoàng. Ngày nay họ Hoàng được gọi là Hoàng Giang Hạ, và tên
gọi Giang Hạ tương đồng với họ Hoàng.
Sau ba thế
kỷ suy tàn, họ Hoàng được phục hưng khi Hoàng Hiết, hậu duệ họ Hoàng
được tiến cử làm Tể tướng nhà Chu, được phong là lãnh Chúa Xuân Thân
(314 - 238 TCN). Đến thời nhà Hán, họ Hoàng bước vào thời kỳ cực thịnh
khi Hoàng Bá (130 - 51 TCN) lại được phong làm Tể tướng .
Khi quân
Nguyên Mông xâm lược Trung Hoa (1279), dựng lên triều Nguyên (Yuan 1279 -
1368), họ Hoàng từ thời kỳ huy hoàng cực thịnh bước vào thời kỳ suy tàn
không thể khôi phục được.
Vào thời
nhà Tấn (265 - 420), rợ Hồ xâm chiếm phía Bắc Trung Hoa, nhiều cư dân họ
Hoàng theo vua Tấn di cư xuống phía Nam. Đây chính là thời gian họ
Hoàng nhập cư vào Phúc Kiến. Đến đời nhà Đường (618 - 970 SCN) thì nhập
cư vào Quảng Đông, rồi phát triển trở thành dòng họ lớn và đứng thứ 3 ở
Nam Trung Hoa ngày nay.
Cuối nhà
Minh (1368 - 1644), nhiều quan lại họ Hoàng theo Trịnh Thành Công phục
Minh, chống Nhà Thanh (1644 - 1912) bị thất bại, đã vượt biển trốn sang
Đài Loan và xuống vùng Đông Nam Á, trong đó có nước ta.
Như vậy, kể từ ông tổ (Huang Yun - 2253 TCN), tính đến nay đã là 4200 năm, trải qua trên 550 đời.
Theo từ
điển Bách Khoa Toàn Thư, đến năm 2000 họ Hoàng có dân số trên toàn thế
giới khoảng 37 triệu người. Họ Hoàng ở Trung Quốc và Đài Loan xếp thứ 8
trong các dòng họ với 29 triệu người và hơn 3 triệu Hoa kiều. Triều Tiên
có 1 triệu người. Hàn Quốc có 644.294 người họ Hoàng, xếp thứ 17 trong
các dòng họ.
Ở Việt
Nam, đến nay có khoảng 4.3 triệu người mang họ Hoàng. Ở Nam Việt Nam, do
huý kỵ chúa Nguyễn Hoàng nên họ Hoàng được đọc chệch thành Huỳnh từ hơn
300 năm nay. Hiện nay Ban Liên Lạc họ HOÀNG - HUỲNH trong cả nước đã
được thành lập tại WWebsite: http://Banlienlachohooanghuynh.com.vn.
2. Thuỷ tổ họ HOÀNG ĐÌNH thôn Lũ Phong
Căn cứ
vào số tuổi thọ trung bình của các thế hệ cộng lại mà suy luận thì Thuỷ
tổ họ Hoàng Đình ta đến lập nghiệp tại làng Xú, thôn Lũ Phong ngày nay,
vào khoảng cuối Thế kỷ 17 cùng với ít nhất là một người em gái. Vì theo
các cụ thế hệ thứ 4, thứ 5 truyền miệng lại thì mộ bà cô tổ đang an
táng ở thế chân vạc tại cánh đồng làng Mụa, rất phát cho con cháu về
nghề ca hát.
Do chiến
tranh loạn lạc, cuốn phả viết bằng tiếng Hán bị cháy và thất lạc, nên
đến nay con cháu họ Hoàng thôn Lũ phong đều chưa biết đích xác cụ Thuỷ
tổ quê quán gốc gác ở đâu? Bố mẹ là ai? Có mấy anh chị em ? Sinh năm
nào? Lý do đến làng Xú lập nghiệp? Sinh thời cụ làm gì?..v.v và v.v...?
Bà Thuỷ tổ tên tuổi, quê quán, họ hàng anh em...ra sao? Đều chưa biết? Thật đáng tiếc thay!
Tính từ
khi hai cụ Thuỷ tổ - thế hệ thứ 1, đến lập nghiệp tại làng Xú vào
cuối Thế kỷ XVII, sinh ra năm người con trai, lập nên 5 phái họ Hoàng
Đình bây giờ, cho đến năm 2010, con cháu họ HOÀNG ĐÌNH đã phát triển
đến thế hệ thứ thứ 9, có trên 700 gia đình, với gần 900 nhân khẩu, cư
ngụ ở 18 tỉnh, thành trong cả nước và 2 nước ngoài là Thái Lan và Lào.
Nhưng tập trung nhiều nhất tại quê Tổ (làng Lũ Phong) và các tỉnh Nam
Định, Hà Nội, Thái Nguyên, Ninh Bình, Thanh Hoá, Gia Lai, Biên Hoà, Bà
Rịa - Vũng Tàu, An Giang...Rất nhiều thành viên trong họ thuộc thế hệ
thứ 4,5,6.. là những xã viên giỏi, ba đảm đang, là công chức mẫn cán, là
bộ đội cụ Hồ và nhiều người đã hy sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ.Tiếp bước cha ông, thế hệ thứ 7, 8 họ ta đang ra
sức học tập, tu dưỡng và phấn đấu không ngừng, rất nhiều cháu có trình
độ đại học, cao đẳng, trung cấp...đã đang công tác trong cơ quan nhà
nước, trong lĩnh vực kinh tế và lực lượng vũ trang, các gia đình trong
họ tộc làm ăn ngày một khá giả, thành đạt và rất quan tâm chăm lo khuyến
khích con cháu học tập, tu luyện đức, tài. Đó là hành động thiết thực
nhất của con cháu đền đáp công ơn đối với Thuỷ Tổ?
Thuỷ Tổ
mất ngày 12/11 âm lịch. Vào ngày này hàng năm con cháu trong họ dù làm
ăn xa, cũng đều tụ tập về làng Lũ Phong để tham gia giỗ Tổ như một nghĩa
cử tri ân với người quá cố. Đây cũng là dịp con cháu toàn họ mạc gặp
nhau chia sẻ thông tin, hỏi thăm, giúp đỡ tương trợ lẫn nhau và cũng là
dịp ôn cố tri tân và bàn định những việc lớn trong họ tộc trong tương
lai.
Mộ phần của cụ Thuỷ tổ an táng tại Gò Voi, xóm Chợ, làng Lũ Phong, Yên Ninh, Ý Yên, Nam Định.
Nhà thờ tổ
được con cháu đóng góp tài vật xây dựng từ năm 1993 đến năm 1995 thì
hoàn thành. Nhà thờ Tổ toạ lạc trên phần đất của gia đình ông Hoàng Đình
Thông, thuộc đời thứ 6, chi 2, phái trưởng cung hiến và được giao cho
Trưởng tộc các đời nối nhau quản lý, hương khói mỗi ngày đầu tháng
và ngày rằm hàng tháng, đồng thời có nhiệm vụ tổ chức cúng giỗ, trùng tu
tôn tạo hàng năm.
Sưu tầm và biên soạn Hoàng Đình Khải.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét