1. Một số cách
phát âm khác nhau của từ họ Hoàng
Huang, Hwang
(Mandarin-Quan thoại )
Wong (Quảng
Đông /Yue, Fuzhou, Hakka/Kejia, Gan)
Bong (Hakka/Kejia)
Huỳnh, Hoàng (Việt
Nam)
Hwang (Korean,
Triều
Tiên
)
Ng (Phúc Kiến/Min, Teochiew/Chaoshan)
Oei, Ooi, Oi, Wee (Hokkien/Min)
Ong (Phát
âm chệch của "Ng")
2. Gốc tích họ Hoàng
Họ Hoàng ở Trung Quốc xếp
thứ 8 trong các dòng họ và có dân số (tính trên toàn thế giới) khoảng 31 triệu
người (năm 2000). Trong bản bách tính gia (
百
家姓
)
, họ Hoàng chép ở số thứ tự 96.
Từ đời nhà
Shun (
帝舜
)(
Thuấn
đế)
, Hui Lian
惠连
(Hu
ệ Liên)
, con trai của Lu Zhong
陆终
(Lục Chung),
hậu duệ của Hoàng Đế (
黄帝
) đã thành công trong việc chế ngự lũ lụt, vua
Shun (Thuấn) ban đất Can'hu (
参胡
) (Tham Hồ), ngày nay là đất Fenyang (
汾阳
) (Phần Dương
)
tỉnh Shanxi (
山西省
) (
Sơn
Tây). Vào năm 2200 tr
ướ
c công nguyên, vua Shun đổi tê
n đất Can'hu thành đất của nước Hoàng (
黄国
)
và
ban họ cho Hui Lian thành họ Hoàng
(
黄
),
tên
là Yun
(
云
)
(Vân)
. Từ đấy, con cháu họ Hoàng cai trị đất này cho đến thời
Xuân Thu (
春秋时代
)
(722- 481 trước công nguyên). Sau đó rơi vào tay nước Jin (
晋国
) (Tấn Quốc).
Như vậy, từ đời Hoàng Đế đến Hui Lian tất
cả 12 đời như sau: (1)
黄帝
Hoàng Đế
(Huang Di), (2) Chang Yi
昌意
(Xương
Ý),
(3)Zhuan Xu (Emperor)
帝颛须
,(Chuyên Tu đế)
(4)Qion
g
Chan
穷蝉
(Cùng Thiền),
(5)Nu Xiu
女修
,(Nữ Tu),
(6)Lao Tong
老童
(Lã
o Đồng)
,
(7)Shao Xin
少辛
(Thiểu Tân)
,
(8)Juan
Zhang
卷章
(Quyển Chương),
(9)Zhong Li
重黎
(Trọ
ng Lê)
,
(10)Wu Hui
吴回
(Ngô Hồi)
,
(11)Lu Zhong
陆终
(Lụ
c
Chung)
,
(12)Hui Lian
惠连
(Huệ Liên). Tính đến nay đã là 4200 năm kể từ
ông tổ Hui Lian (Huang Yun – 2253TCN).
3.
Sự phát triển
Vào năm 891 trước CN, Chu Thảo
Vương
(Zhou Xiao Wang)
周孝王
phong Hầu cho Hoàng Hi (
黄熙
)
(con trai (aka) của Huang Shi
黄石
-Hoàng Thạch
), hậu duệ thứ 53 của
Huệ Liên (
惠连
)
và phong đất vùng phiá đông sông Hán (
汉水
)
(ngày nay thuộc vùng Nghi Thành
(Yicheng) (
宜城
)
tỉnh Hồ Bắc
(
湖北
) gọi là đất Hoàng (lưu ý đất này khác với nước
Hoàng ở Phần Dương, tỉnh Sơn Tây). Lãnh địa này gồm 4 nước: Giang (
江
), Hoàng (
黄
) -
đư
ợc gây dựng do hậu duệ của Bá Ích (
伯益
)
, Đạo (
道
), Bá (
伯
), n
ằm trong
thung lũng sông Hoàng (
潢水
)
. Nước Hoàng ở
Nghi Thành, Hồ Bắc được xem như nước Tây Hoàng (
西黄
) trong lịck s
ử.
Vào năm 845 trước CN, Hầu Văn (
文侯
)
Hoàng Mạnh (
黄孟
),
aka của Hoàng Chương (
黄璋
) dời đô nước Hoàng từ Nghi Thành về Hoàng Xuyên
(Huangchuan) (
潢川
)
, tỉnh Hà
Nam và lập nên nước Hoàng mới. Hậu duệ của Hoàng Hi
(
黄熙
)
thống trị
đất Hoàng cho đến năm 648 TCN sau đó bị nước Sở, một chư hầu của Nhà Chu chiếm
mất. Hầu Mục (
穆侯
) Hoàng Xí Sanh (
黄企生
) chạy thoát sang lánh ở nước Tề (
齐国
) (ngày nay thu
ộc Linzi, tỉnh Sơn
Đông (
山东省
)). Th
ần dân
nước Hoàng buộc di chuyển về đất nhà Chu ngày
nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, nơi mà được gọi là Giang
Hạ quận (Jiangxia
江夏郡
)
thời nhà Hán (
汉朝
) (nay là Vũ Hán). Ngày nay, nhi
ều nơi ở vùng này vẫn còn có tên là Hoàng như Hoàng
Cương (
黄冈
)
, Hoàng Pha
(
黄陂
)
, Hoàng Mai
(
黄梅
)
, Hoàng Thạch
(
黄石
). Một phần lớn thần dân Hoàng cũng dời đến vùng
phía Nam
sông Trường giang/Giang Tế (Dương t
ử)
(
长江
),
dần dần đồng hoá
với dân địa phương mà thành dân thiểu số họ Hoàng không thuần Hán đang sống ở
vùng nam Trung Quốc ngày nay.
Từ Giang Hạ,
dần dần họ Hoàng đi khắp Trung Hoa và trên thế giới. Từ đây, Giang Hạ được xem
như là cái nôi của họ Hoàng. Ngày nay, họ Hoàng được gọi là Hoàng Giang Hạ và
tên gọi Giang Hạ tương đồng với họ Hoàng
.
Sau 3 thế kỷ suy tàn, họ Hoàng được phục
hưng khi Hoàng Hiết (
黄歇
), m
ột hậu duệ của gia đình quý tộc họ Hoàng đã được tiến
cử làm tể tướng nhà Chu.
Hoàng Hiết đư
ợc phong là lãnh
chúa Xuân Thân (
春申君
) sống vào năm
(314-238 TCN). Thời nhà Hán, Hoàng Bá (
黄霸
)
(130 - 51 TCN) lại được phong
làm tể tướng. Họ Hoàng bước vào thời kỳ cực thịnh trong thời nhà Hán
Vào thời nhà Tấn (
晋朝
)
(265-420), rợ Hồ xâm lấn phía Bắc
Trung Hoa, nhiều dân cư sống phía bắc (đặc biệt là các gia đình quan lại) di
chuyển xuống phía nam cùng với nhà Tấn. Đây chính là thời gian dân họ Hoàng nhập
cư vào Phúc Kiến (
福建省
).
Từ đời
nhà Đường
(618-907
sau CN)
về sau, dân họ Hoàng nhập cư vào Quảng đông (
广东省
)
từ Phúc Kiến. Họ Hoàng
phát triển trở nên dòng họ lớn và đứng thứ 3 ở Nam Trung Hoa ngày nay.
Th
ời gian giao thời giữa nhà Minh
(
明
)
(1368
-
1644)
nhà Thanh (
清
)
(1644
-
1912)
,
nhiều quan lại họ Hoàng theo lực lượng Nhà Minh chống nhà Thanh dưới sự
lãnh đạo của Trịnh Thành Công (
郑成功
)
đã vượt biển sang Đài Loan. Dân
họ Hoàng vượt biển xuống Đông Nam Á chủ yếu vào đầu thế kỷ 14 thời nhà Minh.
Theo gia phả họ Hoàng ở
Trung Quốc, đến thời quân Nguyên Mông xâm lược Trung Hoa (1279), dựng nên triều
Nguyên (Yuan-1279-1368), đây là thời kỳ bước ngoặt lớn cho họ Hoàng, từ thời kỳ
huy hoàng cực thịnh bước vào thời kỳ suy tàn mà không thể nào khôi phục được.
Lần theo gia phả
họ Hoàng, đến đời 131, Hoàng Bá
Nghiêu/Giao
黄伯尧
(
1340
-
1398
), dời đến ở Cao sơn
(Gaoshan), Zhangpu (nay thuộc làng Gaoshan thị trấn Shaxi, huyện Zhangpu , tỉnh
Phúc Kiến),
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét