Nâng cấp


GIỚI THIỆU * KHUYẾN HỌC * LIÊN HỆ * NHÂN VẬT SỰ KIỆN * PHẢ HỆ HỌ HOÀNG: VIỆT NAM - VẠN PHÚC * THƯ MỜI VÀ THÔNG BÁO * TIN TỨC HOẠT ĐỘNG * VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

Cổng thông tin liên lạc họ Hoàng Vạn Phúc đang trong thời gian nâng cấp. Để nội dung phong phú và sát thực hơn xin mời Quý vị quay lại sau và liên hệ cùng xây dựng.

Thứ Năm, 22 tháng 3, 2012

GỐC TÍCH HỌ HOÀNG




1. Một số cách phát âm khác nhau của từ họ Hoàng
Huang, Hwang                                (Mandarin-Quan thoại )
Wong                                                (Quảng Đông /Yue, Fuzhou, Hakka/Kejia, Gan)
Bong                                                 (Hakka/Kejia)
Huỳnh, Hoàng                                 (Việt Nam)
Hwang                                              (Korean,
Triều Tiên )
Ng                                                      (Phúc  Kiến/Min, Teochiew/Chaoshan)
Oei, Ooi, Oi, Wee                            (Hokkien/Min)
Ong                                                    (Phát âm chệch của "Ng")
Trích lọc thông tin từ trang WEB http://www.geocities.com/bx_huang/ xác định gốc tích họ Hoàng như sau:
 
2. Gốc tích họ Hoàng
 
Họ Hoàng ở Trung Quốc xếp thứ 8 trong các dòng họ và có dân số (tính trên toàn thế giới) khoảng 31 triệu người (năm 2000). Trong bản bách tính gia ( 家姓 ) , họ Hoàng chép ở số thứ tự 96.
Từ đời nhà  Shun ( 帝舜 )( Thuấn đế) , Hui Lian 惠连 (Hu ệ Liên) , con trai của Lu Zhong 陆终 (Lục Chung), hậu duệ của Hoàng Đế ( 黄帝 ) đã thành công trong việc chế ngự lũ lụt, vua Shun (Thuấn) ban đất Can'hu ( 参胡 ) (Tham Hồ), ngày nay là đất Fenyang ( 汾阳 ) (Phần Dương ) tỉnh Shanxi ( 山西省 ) ( Sơn Tây). Vào năm 2200 tr ướ c công nguyên, vua Shun đổi tê n đất Can'hu thành đất của nước Hoàng ( 黄国 ) ban họ cho Hui Lian thành họ Hoàng ( ), tên là Yun ( ) (Vân) . Từ đấy, con cháu họ Hoàng cai trị đất này cho đến thời Xuân Thu ( 春秋时代 ) (722- 481 trước công nguyên). Sau đó rơi vào tay nước Jin ( 晋国 ) (Tấn Quốc).
Như vậy, từ đời Hoàng Đế đến Hui Lian tất cả 12 đời như sau: (1) 黄帝 Hoàng  Đế (Huang Di), (2) Chang Yi 昌意 (Xương Ý), (3)Zhuan Xu (Emperor) 帝颛须 ,(Chuyên Tu đế) (4)Qion g Chan 穷蝉 (Cùng Thiền), (5)Nu Xiu 女修 ,(Nữ Tu), (6)Lao Tong 老童 (Lã o Đồng) , (7)Shao Xin 少辛 (Thiểu Tân) , (8)Juan Zhang 卷章 (Quyển Chương), (9)Zhong Li 重黎 (Trọ ng Lê) , (10)Wu Hui 吴回 (Ngô Hồi) , (11)Lu Zhong 陆终 (Lụ c Chung) , (12)Hui Lian 惠连 (Huệ Liên). Tính đến nay đã là 4200 năm kể từ ông tổ Hui Lian (Huang Yun – 2253TCN).
3. Sự phát triển
Vào năm 891 trước CN, Chu Thảo Vương (Zhou Xiao Wang) 周孝王 phong Hầu  cho Hoàng Hi ( 黄熙 ) (con trai (aka) của Huang Shi 黄石 -Hoàng Thạch ), hậu duệ thứ 53 của Huệ Liên ( 惠连 ) và phong đất vùng phiá đông sông Hán ( 汉水 ) (ngày nay thuộc vùng Nghi Thành (Yicheng) ( 宜城 ) tỉnh Hồ Bắc ( 湖北 ) gọi là đất Hoàng (lưu ý đất này khác với nước Hoàng ở Phần Dương, tỉnh Sơn Tây). Lãnh địa này gồm 4 nước: Giang ( ), Hoàng ( ) - đư ợc gây dựng  do hậu duệ của Bá Ích ( 伯益 ) , Đạo ( ), Bá ( ), n ằm trong thung lũng sông Hoàng ( 潢水 ) . Nước Hoàng ở  Nghi Thành, Hồ Bắc được xem như nước Tây Hoàng ( 西黄 ) trong lịck s ử. Vào năm 845 trước CN, Hầu Văn ( 文侯 )  Hoàng Mạnh ( 黄孟 ), aka của  Hoàng Chương ( 黄璋 )  dời  đô nước Hoàng từ Nghi Thành về Hoàng Xuyên (Huangchuan) ( 潢川 ) , tỉnh Hà Nam và lập nên nước Hoàng mới. Hậu duệ của Hoàng Hi ( 黄熙 ) thống trị đất Hoàng cho đến năm 648 TCN sau đó bị nước Sở, một chư hầu của Nhà Chu chiếm mất. Hầu Mục ( 穆侯 ) Hoàng Xí Sanh ( 黄企生 ) chạy thoát sang lánh ở nước Tề ( 齐国 ) (ngày nay thu ộc Linzi, tỉnh Sơn Đông ( 山东省 )). Th ần dân nước Hoàng buộc di chuyển về đất nhà Chu ngày nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, nơi mà được gọi là Giang Hạ quận (Jiangxia 江夏郡 ) thời nhà Hán ( 汉朝 ) (nay là Vũ Hán).   Ngày nay, nhi ều nơi ở vùng này vẫn còn có tên là Hoàng như Hoàng Cương ( 黄冈 ) , Hoàng Pha ( 黄陂 ) , Hoàng Mai ( 黄梅 ) , Hoàng Thạch ( 黄石 ). Một phần lớn thần dân Hoàng cũng dời đến vùng phía Nam sông Trường giang/Giang Tế (Dương t ử) ( 长江 ),   dần dần đồng hoá với dân địa phương mà thành dân thiểu số họ Hoàng không thuần Hán đang sống ở vùng nam Trung Quốc ngày nay.
Từ Giang Hạ, dần dần họ Hoàng đi khắp Trung Hoa và trên thế giới. Từ đây, Giang Hạ được xem như là cái nôi của họ Hoàng. Ngày nay, họ Hoàng được gọi là Hoàng Giang Hạ và tên gọi Giang Hạ tương đồng với họ Hoàng .
Sau 3 thế kỷ suy tàn, họ Hoàng được phục hưng khi Hoàng Hiết ( 黄歇 ), m ột hậu duệ của gia đình quý tộc họ Hoàng đã được tiến cử làm tể tướng nhà Chu. Hoàng Hiết đư ợc phong là lãnh chúa Xuân Thân ( 春申君 ) sống vào năm (314-238 TCN). Thời nhà Hán, Hoàng Bá ( 黄霸 ) (130 - 51 TCN) lại được phong làm tể tướng. Họ Hoàng bước vào thời kỳ cực thịnh trong thời nhà Hán
Vào thời nhà Tấn ( 晋朝 ) (265-420), rợ Hồ xâm lấn phía Bắc Trung Hoa, nhiều dân cư sống phía bắc (đặc biệt là các gia đình quan lại) di chuyển xuống phía nam cùng với nhà Tấn. Đây chính là thời gian dân họ Hoàng nhập cư vào Phúc Kiến ( 福建省 ). Từ đời nhà Đường (618-907 sau CN) về  sau, dân họ Hoàng nhập cư vào Quảng đông ( 广东省 ) từ Phúc Kiến.  Họ Hoàng  phát triển trở nên dòng họ lớn và đứng thứ 3 ở Nam Trung Hoa ngày nay.
Th ời gian giao thời giữa nhà Minh ( ) (1368 - 1644) nhà Thanh ( ) (1644 - 1912) , nhiều quan lại họ Hoàng theo lực lượng Nhà Minh chống nhà Thanh dưới  sự  lãnh  đạo  của Trịnh Thành Công ( 郑成功 ) đã vượt biển sang Đài Loan. Dân họ Hoàng vượt biển xuống Đông Nam Á chủ yếu vào đầu thế kỷ 14 thời nhà Minh.
Theo gia phả họ Hoàng ở Trung Quốc, đến thời quân Nguyên Mông xâm lược Trung Hoa (1279), dựng nên triều Nguyên (Yuan-1279-1368), đây là thời kỳ bước ngoặt lớn cho họ Hoàng, từ thời kỳ huy hoàng cực thịnh bước vào thời kỳ suy tàn mà không thể nào khôi phục được.
Lần theo gia phả họ Hoàng, đến đời 131, Hoàng Bá Nghiêu/Giao 黄伯尧 ( 1340 - 1398 ), dời đến ở Cao sơn (Gaoshan), Zhangpu (nay thuộc làng Gaoshan thị trấn Shaxi, huyện Zhangpu , tỉnh Phúc Kiến),

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét